Đến Hội An, du khách chắc chắn sẽ không khỏi trầm trồ trước vẻ đẹp vừa hoài niệm vừa lãng mạn trên từng con phố cổ của những chiếc đèn lồng.
Nghề chế tác thủ công này không chỉ đơn thuần là sinh kế lâu đời của người dân xứ Quảng, mà đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể vô giá, gói gọn sự khéo lếu, tỉ mẩn và nét đẹp tinh thần của con người nơi đây.
Nhắc đến những chiếc đèn lồng Hội An không thể không nhắc đến nghệ nhân Huỳnh Văn Ba - người được mệnh danh là “che đẻ” của đèn lồng gấp gọn. Dù năm nay đã ngoài 90 tuổi, ông Ba vẫn có thể tự tay chế tác nhưng chiếc đèn lồng tinh xảo, rực rỡ sắc màu.
Quy trình để tạo nên một chiếc đèn lồng Hội An hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua những công đoạn chính hết sức khắt khe và công phu.

Vật liệu cốt lõi là loại tre già, đặc ruột. Tre được chẻ thành từng nan nhỏ và ngâm trong nước muối hoặc bùn lầy từ 10 đến 15 ngày để triệt tiêu hoàn toàn lượng đường tự nhiên, chống mối mọt và hạn chế co ngót.
Sau khi phơi khô, nghệ nhân hơ lửa để uốn cong nan tre theo các hình dáng đặc trưng (củ tỏi, quả bí, bánh ú, đĩa bay). Các nan được ráp lại, cố định bằng dây dù hoặc dây thép mảnh, tạo thành một khung xương vững chắc.
Hai đầu chuôi của đèn lồng thường được tiện từ gỗ mít hoặc gỗ xoan, chạm trổ hoa văn sắc nét và đánh bóng kỹ lưỡng.
Nghệ nhân lắp đặt một trục nan và chốt nêm bằng gỗ bên trong. Thiết kế này hoạt động như nan ô, giúp chiếc đèn có thể bung mở căng tròn khi sử dụng và xếp gập lại hoàn toàn phẳng phiu để dễ dàng vận chuyển mà không làm gãy khung.
Chất liệu bọc ngoài thường là lụa tơ tằm (đặc biệt là lụa Hà Đông) vì có độ dai, bắt sáng xuất sắc và tạo ra ánh sáng mờ ảo, ấm áp.
Tấm lụa được đo đạc tỉ mỉ và cắt thành từng múi nhỏ tương ứng với khoảng cách và độ cong của các nan tre. Đường cắt phải dôi dư khoảng 1-2mm để chừa mép dán.

Nghệ nhân phết một lớp keo dán chuyên dụng lên bề mặt các nan tre, sau đó miết chặt từng múi lụa lên khung.
Thao tác này đòi hỏi sự cảm nhận lực tay cực tốt: vải phải được kéo đủ căng để bề mặt phẳng lỳ, không chùng nhăn khi thời tiết thay đổi, nhưng không được quá mạnh khiến khung bị méo. Phần lụa thừa ở mép nan được dùng dao lam gọt sạch sẽ.
Trên nền lụa đã căng, thợ vẽ sử dụng cọ và màu acrylic hoặc phẩm nhuộm tự nhiên để phác họa trực tiếp.
Các hoa văn mang đậm tính biểu tượng như bộ tứ quý (Tùng, Cúc, Trúc, Mai), phong cảnh phố cổ, hoa sen hoặc thư pháp chữ Hán. Đèn sau khi vẽ được phơi trong bóng râm để màu tiệp vào lụa và khô tự nhiên.
Công đoạn cuối cùng là gắn khuy treo bện bằng lụa và dán tua rua (đuôi đèn) vào chuôi dưới. Dây tua rua phải được chải mượt, không xơ rối, cắt bằng đầu và có màu sắc đồng bộ với thân áo đèn.
Người thợ sẽ đóng mở đèn nhiều lần để kiểm tra độ trơn tru của khớp mộc, độ cân bằng khi treo và khả năng xuyên sáng trước khi đưa ra thị trường.

Mặc dù có nguồn gốc giao thoa từ thời thương cảng sầm uất thế kỷ 16 - 17, đèn lồng Hội An đã định hình cho mình một bản sắc hoàn toàn riêng biệt khi đặt cạnh hai nét "văn hóa đèn lồng" lớn của Châu Á là Trung Quốc và Nhật Bản.

Khác với đèn lồng Trung Quốc mang sắc thái uy nghiêm, náo nhiệt của lễ hội; đèn lồng Nhật Bản hướng tới sự tối giản, thiền định; thì đèn lồng Hội An lại gợi lên sự ấm áp, mộc mạc và mềm mại. Chất liệu lụa tơ tằm khi phản chiếu ánh đèn tạo ra quầng sáng dịu nhẹ, lung linh mà không chói mắt.
Trải qua hàng trăm năm biến động lịch sử, nghề làm đèn lồng Hội An không những không bị mai một mà vẫn sống động trong từng hơi thở của phố cổ. Ánh sáng từ những chiếc đèn lồng Hội An bằng lụa chính là gạch nối giữa quá khứ thương cảng rực rỡ và một Hội An hiện đại, giàu bản sắc văn hóa.

Nếu bạn muốn tự tay chế tác hoặc mua những chiếc đèn lồng Hội An chuẩn chất lượng truyền thống, hãy tham khảo các địa chỉ dưới đây:


Du khách có thể ngắm đèn lồng đẹp nhất trên tuyến đường quanh sông Hoài trong khu phố cổ như Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Nguyễn Thị Minh Khai, Bạch Đằng... Thời điểm đẹp nhất là từ 18 giờ, đèn lồng được thắp sáng khắp nơi, thay thế cho ánh đèn điện hàng ngày, tạo nên không gian độc đáo để người dân phố Hội trình diễn nghệ thuật đèn lồng.